truyen sex hay
Google+
Trang chủ » Thế giới truyện » Kinh tế

40 gương thành công – Chương 37 + 38 

Đăng ngày 12/6/2013 by admin

Xem toàn tập:
loading...
<

37. Henry Ford

Nếu bạn có một em nhỏ hễ
mở sách ra học là ngáp mà trông thấy một đồ chơi gì có máy móc là mắt sáng lên,
xun xoe muốn rờ, thử, tháo, lắp, và suốt ngày chỉ rình lúc bạn ngủ trưa hoặc
tiếp khách để bỏ bài vở, chạy tuốt ra sân lau chùi chiếc xe máy dầu của bạn,
thì bạn đừng vội buồn: biết đâu em đó sau này chẳng thành một Henry Ford của
Việt Nam? Vì Henry Ford hồi nhỏ cũng biếng học như vậy: ngồi trong lớp chỉ lén
nói chuyện về máy móc với bạn bè và chỉ mong chóng tan học để chạy về nhà, leo
lên căn gác xép ở thượng lương mà hí hoáy với những cây đinh, những cái kim,
cái giũa. 

Hồi tám tuổi, ông mê
đồng hồ như các trẻ khác mê tiểu thuyết kiếm hiệp. Thấy đồng hồ nào hư, ông
cũng tháo ra coi rồi sửa…và sửa được. Một người chơi thân với gia đình ông đã
phải nói:”Đồng hồ nào ở trong làng này cũng phải run lên khi thấy thằng
Henry tới gần”. Lần lần, tài sửa đồng hồ của ông vang lừng trong miền. Ai
có đồng hồ hư cũng đem lại nhờ “cậu Henry”sửa, và “cậu
Henry” không bao giờ đòi tiền công: việc làm đó thú quá mà! 

Máy móc có sức quyến rũ
ông kỳ dị. Trông thấy máy gì mới, ông cũng tìm hiểu cho kỳ được. Có lần lại một
tiệm cưa, ông thừa lúc vắng người, tháo một cái máy chạy bằng hơi nước ra xem,
bị máy kẹp, suýt nguy đến tánh mạng. Nhưng chỉ ít lâu sau, năm ông mười hai
tuổi, ông đã bắt chước chế tạo được một máy nhỏ chạy bằng hơi nước, trong căn
gác xếp của ông. 

Năm hai mươi tám tuổi,
đọc một bài báo trong tạp chí Monde scientifique, tả một kiểu máy nổ do một
người Đức phát minh, ông quyết chí thực hành cái mộng chế tạo xe hơi. Ông rời
quê hương, lại Detroit
ở, nhận một chân kỹ sư làm đ êm trong một hãng điện. Ông làm việc như mọi từ 6
giờ tối đến 6 giờ sáng, mà chỉ lãnh được một số lương khỏi chết đói. Nhưng ông
không nản chí, còn gắng sức sửa đồng hồ, và dạy thêm trong một trường hướng
nghiệp để kiếm thêm tiền, dành dụm, gây một số vốn, lập một xưởng nhỏ để chế
tạo một kiểu máy nổ chạy bằng xăng. Năm năm sau, máy chế tạo xong, ông lắp nó
vào một vỏ xe cũng do ông đóng lấy, và chiếc xe hơi đầu tiên của Mỹ đã xuất
hiện: nó cao lồng nhồng không mui không thắng, chạy dật lùi không được, tốc độ
cao nhất là 30 cây số một giờ. Bạn thử tưởng tượng: xe hơi không thắng mà chạy
trong thành phố thì nguy hiểm biết chừng nào! Cho nên ông phải lắp một cái
kiểng vào xe, và ông vừa lái vừa luôn tay đánh kiểng để báo cho bộ hành biết mà
tránh. 

Mấy năm sau, ông lập
Công ty xe hơi Detroit
rồi Công ty xe hơi Cadillac, vốn 100.000 Mỹ kim. Mới đầu ông có 25% cổ phần
nhưng kiếm được bao nhiêu ông lại đập cả vào vốn bấy nhiêu, nhất định phải có
già nửa phần hùn để có đủ quyền điều khiển công ty theo ý muốn của mình. Chủ
trương của ông là chế tạo xe cho thật nhiều, để giá xe được hạ, người nào cũng
có thể mua được. 

Ông áp dụng phương pháp
tổ chức công việc của Taylor,
chú trọng tới sự lựa người, và việc dạy nghề cho thợ. Sáng kiến được khuyến
khích, trọng thưởng. Lối làm chuyền được cải thiện. Nhờ vậy, kiểu xe mỗi ngày
mỗi mới, sức sản xuất mỗi ngày mỗi tăng, giá vốn mỗi ngày mỗi hạ mà lương của
thợ thuyền được tăng gấp đôi, trong khi số giờ làm việc rút xuống từ 9 giờ xuống
8 giờ mỗi ngày. 

Năm 1906 ông sản xuất
được 8.400 chiếc xe; bốn năm sau, con số đó tăng lên 34.000; một năm sau nữa,
nó tăng lên 78.000; và tới năm 1927 thì mỗi ngày ông sản xuất được 7.000 chiếc
xe, tính ra cứ 7 giây đồng hồ, có một chiếc xe hơi ở trong xưởng ông từ từ chạy
ra để được gởi đi khắp thế giới. 

Nhờ ông hiểu rằng cái
lợi của thợ thuyền là lợi của ông, và cái lợi của khách hàng cũng là lợi của
ông, mà luôn luôn tìm cách tăng lương cho thợ và hạ giá xe cho nên thợ thuyền
và quần chúng ủng hộ ông trong một vụ tranh chấp với nhiều công ty lớn hơn ông,
như công ty Seldon. Công ty này bắt ông phải theo quan niệm ích kỷ của họ là
bán cho thật mắc, Ông không chịu, họ kiếm cớ kiện ông. Vụ kiện kéo dài hàng mấy
năm. Tòa sơ thẩm đã xử ông thua. Sản nghiệp của ông muốn tiêu tan, nhưng ông
can đảm đăng lên báo hết thảy nguyên do sự kiện và cam đoan với khách hàng rằng
ông sẽ đem hết số vốn công ty để bảo đảm những chiếc xe ông sẽ chế tạo. Quần
chúng thấy ông ngay thẳng và thành thực nghĩ tới lợi của họ, viết báo bênh vực
ông và rốt cuộc, khi ông chống án thì ông thắng. 

Khi đại chiến thứ nhất
bùng nổ ở Âu, ông đau khổ thấy biết bao máu thanh niên chảy trong những hầm núp
trên mặt trận Pháp; cho nên lúc phong trào hoà bình manh nha ở Mỹ, ông hăng hái
gia nhập liền; tuyên bố: “Nếu tôi có thể làm gì cho chiến tranh này ngưng
được thì dù tiêu tan cả sự nghiệp, tôi cũng không ngại”. Cuối năm 1915,
ông bỏ tiền ra mướn chiếc tàu Oscar II và cùng với sáu sứ giả hòa bình nữa,
vượt Đại Tây Dương qua châu Âu. Rủi thay, nửa đường ông bị bệnh nặng phải trở
về Detroit, còn sáu người kia tiếp tục tới Stockholm, Copenhague, La Haye, hô
hào người ta bỏ súng…Nhưng súng cũng vẫn nổ. 

Từ đó, ông hóa ra quạu
quọ, chua chát, nhưng vẫn không ngớt tìm cách cải thiện kiểu xe Ford của ông.
Năm ông sáu chục tuổi, cái tuổi mà ngay ở Mỹ, nhiều người chỉ tính tới chuyện
về vườn dưỡng lão, thì ông còn hăng hái cải tổ lại hoàn toàn hãng Ford: ông bỏ
ra 100 triệu Mỹ kim, thay 43.000 máy cũ, dạy lại nghề cho hết thảy thợ thuyền
để chế tạo một kiểu xe mới, làm cho hãng Ford thành hãng xe hơi lớn nhất thế
giới. 

Ông mất năm 1947, thọ 83
tuổi, sản nghiệp là nửa tỉ Anh kim (khoảng 100 tỉ bạc). Vài tháng trước khi
mất, một buổi sáng nọ, ông cùng với một đứa chắt dạo mát trong vườn. Đương đi
thì đứa nhỏ đánh rớt một vật gì trong cỏ. Ông hỏi: 

– Cháu đánh rơi cái gì
đó? 

– Thưa, không có gì cả.
Chỉ là một đồng xu thôi ạ. 

Ông già lặng thinh, cúi
xuống tìm, lượm đồng xu lên, đưa cho dứa nhỏ. Nó ngạc nhiên, hỏi: 

– Người ta nói cố giàu
nhất trong nước, phải không cố?  

– Ừ. 

– Thế thì sao cố lại
chịu khó cúi xuống lượm đồng xu cho cháu? 

– Này, cháu, một ngày
kia, nếu cháu phải sống cô độc trên một hoang đảo thì tất cả những giấy bạc ở
thế giới này sẽ là giấy vụn hết. Nhưng một đồng xu sẽ quý vô cùng. Nó bằng
đồng. Cháu có thể đập nó thành một ngọn giáo hoặc một đồ dùng. Ta coi trọng
đồng xu đó vì tự nó đã có giá trị rồi, chứ không phải như tờ giấy bạc, chỉ để
biểu hiệu một cái gì thôi. Đừng đánh rớt nó nhé. Đã chắc gì sau này cháu không
khỏi bị bỏ cô độc trong một hoang đảo. 

38. Đời Cơ Hàn Của Các Nhạc Sĩ

Ông Leopold Auer, giáo
sư vĩ cầm nổi danh, người đã tìm được và đ ào luyện được nhiều thiên tài về âm
nhạc hơn hết thảy các giáo sư khác trong thế hệ này, có lần nói với tôi rằng
muốn làm nhạc sĩ đa tài thì phải sinh trong một nhà nghèo. Ông bảo có cái gì đó
ông không biết rõ nó là cái gì, có cái gì đó mà cảnh nghèo khổ gây ở trong tâm
hồn ta, một cái gì bí mật, đẹp đẽ, nó làm nẩy nở tình cảm, nghị lực, lòng
thương người, yêu người. 

loading...

Mozart nghèo tới nỗi không
có tiền mua củi sưởi, phải sống trong một phòng tồi tàn lạnh lẽo và đút hai bàn
tay vào hai chiếc vớ len cho khỏi cóng, trong khi sáng tác những bản nhạc mê
hồn đã làm cho tên tuổi ông bất hủ. 

Mới ba mươi lăm tuổi,
ông đã lìa đời vì bệnh lao, sinh lực tiêu lần lần do đói, lạnh, thiếu thức
bổ. 

Tội nghiệp, đám tang của
ông chỉ tốn có nửa Anh kim. Chỉ có sáu người đi theo quan tài bằng ván thông
của ông, mà họ không đưa ông được tới huyệt, nửa đường gặp mưa, họ bỏ về
cả. 

Harold Stanford, bạn
thân nhất của Victor Herbert nói với tôi rằng khi Victor Herbert mới tới châu
Mỹ, nghèo lắm, chỉ có mỗi cái áo sơ mi, thành thử khi nào bà vợ giặt, ủi áo đó
thì ông phải nằm khoèo ở giường không đi đâu được. 

Bạn còn nhớ bài mà hồi
đầu đại chiến thứ nhất, hết thảy chúng ta đều hát đấy không? Bài “Đường đi
tới Tipperary,
dài, dài thăm thẳm”? Có lẽ chưa có bài tiến quân nào ca được quần chúng
hoan nghênh bằng bài đó; mà người sáng tác nó, Jack Judge, ngày phải bán cá, đ
êm phải đóng kịch mới đủ sống. 

Bài “Chỉ bạc trong
vàng” cũng vào hạng nổi danh nhất. Hart P. Dank viết bài đó để tặng bà vợ,
và đem bán được có ba Anh kim. Sau, hai ông bà cãi nhau rồi bỏ nhau; và ông mất
cách đây khoảng ba chục năm, trong cảnh bần hàn cô đơn, tại một căn nhà trọ tồi
tàn. Trên một chiếc bàn kê ở đầu giường, nơi ông tắt nghỉ, người ta thấy một
miếng giấy ghi mấy chữ này:”Giá mà sống cô đơn thực là khổ
não”. 

Một tập nhạc rất nổi
danh là tập “Hoạt kê”(Humoresque). Lạ lùng thay, con một người đồ tể
đã trứ tác nó ở bên những cái máng lúa trong một chuồng heo ở Iowa. Không có giờ nào, bất kỳ ngày hay đ êm
mà tập nhạc đó không được hát ở một nơi nào trên thế giới. 

Soạn giả tập đó là một
người Bô Hem tên là Anton Dvorak. Năm mươi tuổi ông mới tới Hoa Kỳ, nhưng không
chịu nổi cảnh ồn ào náo nhiệt ở Nữu Ước, ông lại một làng nhỏ ở Iowa, làng
Spillville nơi đó hiện nay cũng vẫn chưa có một đường xe lửa hoặc một đường lát
đá nào chạy qua. 

Ở Spillville ông đã soạn
được một phần khúc”Tân thế giới hòa tấu”(New World Symphony) một
trong những khúc thanh cao nhất của nhân loại. 

Ông sinh chín mươi hai
năm trước trong một làng nhỏ ở xứ Bô Hem, tại châu Âu. Ông ít học, phải giúp
việc trong nhà. Và trong khi ông làm dồi heo, cắt thịt thì các bài ca, các bản
nhạc văng vẳng trong óc ông. 

Vì vậy, ông quyết chí
tới Prague để học nhạc. Nhưng tiền đâu? Ông chỉ có ít đồng xin được của khách
qua đường sau khi đờn vĩ cầm cho họ nghe, cho nên ông phải sống trong một phòng
ở sát mái nhà tại khu nghèo nhất trong châu thành. Mà không được ở một mình
nữa, phải ở chung với hai sinh viên khác cho đỡ tiền mướn. 

Mùa đông, phòng lạnh như
băng; mà ông lại ốm yếu vì đói, vì phải nhịn ăn để mướn một dương cầm cũ kỹ
phím đã hư bộn không còn dùng được. Ngồi ở bên dương cầm đó, trong phòng lạnh
đó, ông đã soạn nhiều khúc hòa tấu đẹp, nhưng không có tiền mua giấy để chép
lại. Thỉnh thoảng lượm được ở ngoài đường một miếng giấy, ông đem về, giữ kỹ để
chép nhạc. 

Tuy nhiên ta không nên
phàn nàn cho ông vì chính cảnh nghèo khổ đó đã giúp ông có thiên tài. 

Lần sau, bạn có thể nghe
bản “Hoạt kê”, bạn thử ráng tìm trong đó xem có một cái đẹp bí mật,
một tình cảm êm ái triền miên mà nhờ chịu đau khổ, chịu đói lạnh, chịu thất
vọng ông đã tìm ra, gợi được rồi ký thác vào tác phẩm? 

�’o؀i
�i
2.0pt;font-family:”Times New Roman”;
mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;color:black’>Sau này, nổi danh rồi có
lần bà hát đúng ở rạp đó và chính ông giám đốc đó nhiệt liệt khen bà, rồi hỏi:
“Tôi coi mặt bà như quen quen. Chắc tôi có gặp bà một lần ở đâu
rồi?”. 

 

Bà bảo tôi: “Tôi
đáp ông ta như vầy. Ông có gặp tôi một lần ở đâu ư? Thì chính ở đây, chứ ở đâu
nữa. Ông quên rồi sao? Rồi tôi kể lại câu chuyện mua máy may cho ông ta
nghe…” 

Thật cảm động. 

 

 

Xem cả bộ:

Các chương khác:

xem thêm -->> truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện: